Khảo Luận về cụ Phan Thanh Giản
-
Sưu Tầm:
Nguyễn Hữu Cường -
Chương
1
Khi nhận định giá trị thật sự của một con vật hay
một đồ vật vô tri người ta thường căn cứ trên những
lợi ích mà con vật hay món đồ vật đó mang đến cho
con người. Người ta đánh giá trước khi mua về để
dùng và sự đánh giá thường hay căn cứ theo lời quảng
cáo của nhà sản xuất ra các món đồ vật hay của nhà
nuôi thú để bán. Sự đánh giá về đồ vật hay con vật
cũng được thực hiện theo những lời đồn đãi của quần
chúng hoặc theo sự giới thiệu của người đã có kinh
nghiệm xài qua hay đã từng là sở hữu chủ các vật
đó. Món đồ vật hay con vật sau khi mua về tạo được
lợi ích thì sẽ được người mua nâng niu châm sóc
cẩn thận để có thể xử dụng lâu dài và khi món đồ
vật đã xài lâu năm bị hao mòn hay đã trở thành lạc
hậu thì người chủ phải quyết định bỏ đi nhưng lòng
vẫn luyến tiếc không nở dứt bỏ và có thể là món
đồ vật nầy sẽ được lưu giữ lại để trở thành một
món đồ cổ đầy kỷ niệm được giữ lại cho hậu sinh
trong gia tộc chiêm ngưỡng.
Đánh giá về một con người là một tiến trình phức
tạp, tế nhị và khúc mắc. Tại sao? Bởi vì con người
cũng là một con vật, nhưng là một con vật có một
khối óc biết suy nghĩ và một con tim đầy ấp tình
cảm. Vì có con tim đầy tình cảm cho nên rất khó
cho một con người nầy phê phán, đánh giá khách quan
một con người khác bởi vì tình cảm con người bị
quá nhiều yếu tố ngoại lai ảnh hưởng hoặc chi phối
cho nên dễ rơi xuống gần với loài động vật tuy rằng
có bộ óc nhưng chỉ biết hành động theo phản xạ chứ
không biết suy nghĩ chính chắn khách quan hoặc bị
cản trở không cho phép suy nghĩ theo đúng với lý
trí của mình.
Đánh giá một con người lịch sử lại càng khó hơn
bởi vì con người lịch sử thông thường đã thuộc về
quá khứ lâu đời, là một thành viên trong một bối
cảnh lịch sử nào đó đã qua đi và từ xưa đến nay
hầu hết các bối cảnh lịch sử thực tế đều do guồng
máy thống trị đất nước mặc tình thao túng muốn thêu
dệt, bẻ méo cách nào cũng được qua các văn kiện,
tài liệu, sách vỡ, phương tiện truyền thông, chiến
dịch đồn miệng truyền tai núp, lợi dụng lòng mê
tín dị đoan của người dân chất phát ít học để thần
thánh hóa một triều đại hay để quảng cáo cho một
lãnh tụ, tất cả đều núp dưới mỹ từ lịch sử hoặc
dã sử. Đầu óc địa phương, bè phái, mặc cảm tự tôn
cũng là những yếu tố khiến cho việc đánh giá một
con người lịch sử mất đi tính cách công tâm và khách
quan.
Dĩ nhiên là khi đánh giá một nhân vật lịch sử thì
không thể nào tách nhân vật nầy ra khỏi bối cảnh
lịch sử cụ thể thực sự vào thời đó - một bối cảnh
lịch sử thực sự chứ không phải một bối cảnh bịa
đặt- với những mối dây liên hệ trói buộc phức tạp
trên mọi lãnh vực xã hội, văn hóa, gia đình, môi
trường hoạt động và đường lối phát triển đất nước
so với xu hướng phát triển chung của thế giới đang
được bành trướng khắp nơi vào thời điểm đó.
Từ xưa đến nay, dư luận đánh giá một nhân vật lịch
sử thường có mục đích để tôn vinh hoặc để kết tội
nhân vật lịch sử đó. Khi đánh giá tôn vinh thì tốt
khoe xấu che, cái tốt của nhân vật được đề cập tới
nhiều hơn và thường thì lại bày đặt thêm thắt, đánh
bóng, thổi phòng để biến nhân vật nầy thành một
ông thánh sống vô nhiễm mọi tội lỗi, thành một nhà
hiền triết khôn ngoan sáng suốt đứng trên hết mọi
người. Khi đánh giá kết tội thì xấu bêu tốt lờ mà
mục tiêu của việc đánh giá bêu xấu là để che tội
cho một kẻ khác, biến kẻ bị bêu xấu thành một con
vật hy sinh tế thần. Nhiều khi người bị bêu xấu
vô tội, cái tội của họ là do kẻ có tội thật sự vì
muốn che dấu khuất lấp tội lỗi xấu xa của mình cho
nên đã đổ hết tội lỗi lên đầu người khác. Nhiều
khi người bị bêu xấu không có tội tình gì nhưng
vì hoàn cảnh phải ở về cùng một phía của những kẻ
bị xem là có tội cho nên phải chịu họa lây mặc dù
kẻ đứng ra kết tội dư sức biết rõ người đó bị kết
tội một cách bất công thay vì được nghiêm xét một
cách vô tư và đáng được vinh danh.
Lại cũng có những cung cách đánh giá tùy thời, gió
chiều nào theo chiều đó. Kiểu đánh giá tiền hậu
bất nhứt như thế sẽ khiến cho mọi người mất tin
tưởng và dù sau nầy việc đánh giá có đúng sự thật
một trăm phần trăm đi chăng nữa thì cũng chỉ giống
như nước đổ đầu vịt bởi vì một lần bất tín thì vạn
sự bất tin.
Đối với những nhân vật lịch sử có thành tích lẫy
lừng vang dội, thành tích tốt cũng như thành tích
xấu, thì sự đánh giá có thể là dễ dàng nhưng cũng
chưa chắc là khách quan vô tư đầy đủ nhưng không
phải vì có nhiều đánh giá tiếp theo sau đó có cùng
một quan điểm mà vội cho là đã nhất trí.
Có những nhân vật lịch sử xuất hiện trong một bối
cảnh phức tạp biến động, dẫy đầy thử thách và mâu
thuẫn, xô đẩy nhân vật nầy vào con đường bế tắc
không biết phải hành động thế nào cho phù hợp với
lý trí đưa đến tình trạng thực hành những điều trái
với lương tâm của mình. Đối với những nhân vật lịch
sử nầy từ trước đến nay người ta thường chỉ đánh
giá một chiều theo những chứng cớ che lắp, đầy dẫy
hậu ý bất công và đây cũng là trường hợp của một
số đông nếu không nói là hầu hết những nhân vật
của miền Nam Việt Nam có tên trong lịch sử kể từ
thời hoàng đế Gia Long đến nay mà trong số những
nhân vật nầy, hoàng đế Gia Long và ông Phan Thanh
Giản là những trường hợp điển hình hơn hết.
Việc đánh giá và phê phán ông Phan Thanh Giản không
phải chỉ xảy ra sau cái chết tự xử của ông vào năm
1867 mà nó đã xảy ra ngay trong lúc ông còn sinh
tiền, đặc biệt là vào lúc thế lực thực dân thuộc
địa từ phương Tây bắt đầu dòm ngó vào vùng đất hình
cong chữ S của nước Đại Nam.
Chương
2
NHỮNG NGUYÊN DO CHỦ YẾU
TRONG CUỘC CHIẾN XÂM LĂNG CỦA NGƯỜI PHÁP VÀ SỰ THẤT BẠI
CỦA TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN TRONG VIỆC CHỐNG NGOẠI XÂM ĐỂ
GIỮ NƯỚC
Từ thế kỷ thứ XIX, một nước ĐẠI VƯƠNG QUỐC VIỆT NAM được
hình thành khi triều đại họ Nguyễn được khai sáng, và
hoàng đế Gia Long đã đặt nền móng để tạo dựng đất nước
Việt Nam thành một quốc gia tiên tiến. Tất cả các cơ cấu
trong guồng máy cai trị của hoàng đế đều được cải tổ và
đã hoạt động tích cực để phát triển theo đà tiến bộ của
nền văn minh và kỳ thuật thế giới. Luật lệ được đổi mới
để thay thế cho các luật lệ già nua lỗi thời từ niên hiệu
Hồng Đức dưới triều đại của vua Lê Thánh Tông trong thế
kỷ thứ XV. (Có dư luận cho rằng bộ luật Gia Long chỉ bắt
chước theo bộ luật của nhà Thanh ở Trung Quốc thua xa
bộ luật Hồng Đức. Nếu xét cho cùng, nền cổ luật từ thời
Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và Hậu Lê, tất cả đều bắt chước
theo các luật lệ của Trung Quốc. Có một điều ngạc nhiên
là, khi sơ khởi thiết lập guồng máy hành chánh cai trị,
Charner đã không dám đem áp dụng ngay luật lệ của nước
Pháp tại các vùng đất của Đại Nam mà Pháp vừa mới chiếm
được nhưng lại phải lục lạo tìm kiếm cho bằng được bộ
luật Gia Long để phiên dịch ra tiếng Pháp và phổ biến
ngay cho các chức quyền hành chánh của họ áp dụng kèm
theo chỉ thị phải theo luật lệ và phong tục của người
Đại Nam trong việc cai trị làng nước).
Những công trình như cầu cống, đường xá, sông ngòi,
kênh rạch, đê đập, kho lẫm, bến cảng, thành trì, tất
cả đều được thực hiện một cách quy mô liên tục, đạt
được thành quả rất tốt và có giá trị lâu bền. Các định
chế về tổ chức quân đội, giáo dục, tài chánh cũng được
đổi mới. Chính người Pháp phải công nhận rằng nước Việt
Nam dưới thời Gia Long đã tiến xa hơn nước Nhật Bản
đến 60 năm và trở thành một trong những cường quốc quân
sự trong vùng bán đảo Đông Dương. Chỉ người ngoại quốc
Âu châu nào có năng lực mới được hoàng đế Gia Long tuyển
chọn để phục vụ như những kẻ đi làm thuê trong các công
trình canh tân xứ sở Việt Nam.
Năm 1817, khi tàu buôn đầu tiên của Pháp đến xin giao
thương, hoàng đế Gia Long đã chấp thuận nhưng vẫn dành
chủ quyền cho nước Việt Nam trong việc ấn định thể thức
giao thương và quyền lựa chọn các mặt hàng hóa xuất
nhập.
Chính sách đế quốc thuộc địa của người Anh ép đặt vào
Singapore năm 1819 khiến cho hoàng đế Gia Long nghi
ngờ và mất tin tưởng vào thiện ý của người ngoại quốc
gốc Âu Châu, vì thế trước khi qua đời , năm 1820, hoàng
đế Gia Long đã trối lại cho hoàng đế Minh Mạng nên đối
xử tốt đẹp với người Âu Châu, đặc biệt là đối với người
Pháp nhưng tuyệt đối không để họ tạo ảnh hưởng để xen
lấn vào nội tình của nước Việt Nam. Đối với Minh Mạng
thì lời trối của Gia Long còn chưa đủ bởi vì dưới triều
đại Minh Mạng, chính sách bất hợp tác với ngoại bang
Âu Châu được áp dụng một cách cứng rắn, triệt đễ và
quay về với truyền thống vọng Trung Quốc của nước Việt
Nam từ ngàn xưa. Thiệu Trị nối nghiệp, tiếp tục theo
đường hướng cai trị của vua cha rồi nay đến Tự Đức cũng
thế. Kế đến chiến tranh giữa người Anh và người Miến
Điện xảy ra vào năm 1826 càng khiến cho những con cháu
nối nghiệp của Gia Long thêm lo âu nghi ngại và họ càng
hướng về mẫu mực văn hóa, đạo đức của Trung Quốc dùng
làm kim chỉ Nam để giữ và xây dựng đất nước Đại Nam.
Họ là những nhà cai trị giỏi nhưng Minh Mạng nổi bật,
chỉ kém thua vua cha Gia Long mà thôi.
Quyền lực chính trị tập trung vào tay của hoàng đế
; không có một quyền lực trung gian; quan lại triều
đình chỉ là công cụ thi hành quyền lực của hoàng đế.
Tất cả người dân trong nước đều được coi như là bình
đẳng, là tôi thần của vua, được thưởng hay chịu phạt
ngang nhau theo một chế độ luật pháp duy nhất. Không
có một ngạch quan quân sự riêng mà cũng không có sự
phân cách giữa quyền lực quân sự và quyền lực hành chánh:
quan đứng đầu cai trị một vùng lãnh thổ cũng là tư lệnh
quân sự cao cấp tại vùng đó nhưng không phải vì thế
mà được hưởng cấp bổng gắp đôi.
Quan lại được tuyển chọn trong các tầng lớp dân chúng
lương thiện, không phân biệt nghèo giàu, qua các khoá
thi định kỳ được tổ chức tại các tỉnh thành quan trọng
và chỉ có một số ít thí sinh thật xuất sắc mới được
chấm đỗ và ban cho ngạch trật quan lại tương ứng với
thứ bật đỗ cao thấp của họ. Người ngoại quốc nào sau
khi được tiếp xúc với các hàng quan lại Việt Nam đều
đồng ý rằng họ là những người tài trí hiểu biết, có
giáo dục, có kỹ luật và đức hạnh. Trước khi người Pháp
xâm lăng, Việt Nam được xem như là một quốc gia có giáo
giục qua các dụ chỉ giáo huấn của nhà vua ban ra. Nho
học và đạo đức thánh hiền được phổ biến rộng rãi trong
dân chúng bởi các cơ quan giáo dục của triều đình hoặc
từ các quan chức đã về hưu mở trường dạy học. Nền giáo
dục đó đã tạo ra một mối liên hệ đồng nhất gắn bó trong
nếp nghĩ suy và hành động của tuyệt đại đa số tầng lớp
người dân trong nước. Tầng lớp Nho sĩ, những người dân
có học cao - những người "quân tử" - là tầng
lớp chỉ đạo và vua, vì là con của Trời, thay Trời hành
đạo để tạo phúc lợi cho nhân gian cho nên vua được xem
như là người quân tử tối cao với quyền hành tuyệt đối
vô giới hạn và không thể bị lầm lẫn. Người dân trong
nước được xem như là con cái của vua. Là phận con cái
cho nên mọi người dân trong nước đều phải lấy chữ trung
hiếu làm đầu. Nếu vua lầm lẫn, ăn ở mất nhân đức thì
chỉ có Trời biết để trừng phạt vua bằng các hình phạt
tai ương, lũ lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh, giặc
giã đổ xuống trên đầu trên cổ "con cái" của
vua. Nếu tai ương kéo dài khiến đa số dân chúng bị khổ
đau triền miên thì vua đương nhiệm bị xem như là hôn
quân, bạo chúa không đạo đức, sẽ dẫn đến các phong trào
nổi dậy và bạo loạn trong nước.
Trong việc cai trị, các vua nhà Nguyễn lựa chọn những
quan đại thần để làm cố vấn chính trị và an ninh trong
một cơ quan gọi là viện Cơ Mật cùng với các cơ quan
hành pháp và tư pháp trung ương, tất cả gộp lại để tạo
thành một cơ quan quyền lực trung ương tối cao, tức
triều đình Huế. Tất cả những chính sách và đường lối
trong việc cai trị đều được vua hỏi ý kiến của triều
đình nhưng quyền quyết định cuối cùng luôn luôn là của
nhà vua.
Ở bậc thang cuối cùng của hình thức tổ chức quyền lực
nước Đại Nam có một đơn vị hành chánh gọi là làng. Mặc
dù ở vào một vị thế thấp nhất nhưng làng lại là một
thế giới riêng biệt: phép vua thua lệ làng; mỗi làng
có những tục lệ, phong tục, tập quán riêng biệt. Người
dân ít khi chịu rời khỏi làng mình đang sinh sống để
đi nơi khác bất kể làng của họ bé nhỏ hay rộng lớn.
Những nề nếp sinh hoạt trong làng như việc phân chia
ruộng công, thực hiện các công trình nông nghiệp, tổ
chức hành chánh, giải quyết các vụ tranh tụng nhỏ trong
những mối liên hệ ràng buộc của những hộ khẩu trong
làng, việc phòng giữ cảnh vệ làng xóm chống trộm cướp,
tất cả những định chế đó đều được tổ chức một cách biệt
lập không có sự can dự của những kẻ ngoại lai không
có hộ khẩu trong làng. Dân làng chọn lựa những người
có uy tín và nhũng người "sống lâu lên lão làng"
để lập thành những ngôi thứ cho những người đứng đầu
nắm quyền cai quản xóm làng. Nhân vật nắm giữ việc điều
hành guồng máy hành chánh tự trị trong làng là lý trưởng
do hội đồng đó chỉ định và tất cả những người nầy lập
thành một tập thể hành chánh quản trị của làng. Nhà
vua và các quan triều chỉ công nhận tập thể này như
là những người đại diện tuyệt đối cho toàn thể cá nhân
sống trong làng. Có thể nói rằng uy quyền của nhà vua
và triều đình không thể lọt qua khỏi cổng làng bởi vì
chính cái xã hội thu nhỏ nầy được hưởng một chính sách
tự trị khá rộng rãi để tự mình tổ chức các cách thức
giữ gìn an ninh và xây dựng làng mạc của mình với điều
kiện là phải nộp thuế cho ngân khố của triều đình: triều
đình ấn định mức thuế cho từng làng và mức thuế nầy
sẽ do hội đồng quản trị của làng phân định cho mỗi người
dân trong làng đóng nộp.
Mặc dù hoàng đế làm chủ đất nước nhưng trên thực tế
ruộng vườn trong làng mặc nhiên xem như là được hoàng
đế cấp phát cho người dân trong làng làm chủ vĩnh viễn,
chính người dân trong làng mới chính là sở hữu chủ đích
thực được hoàng đế và triều đình công nhận nếu chịu
nộp thuế và thi hành những nghĩa vụ do triều đình yêu
cầu. Luật Gia Long ghi: <<Các gia đình của mỗi
châu, huyện chia nhau ruộng đất, lập sổ thuế và tất
cả cùng nhau cai quản việc công sở tại>> (Nguyễn
Văn Huyền, La Civilisation Annamite, [Văn Minh Việt
Nam]; bản dịch; trang 564; Hà Nội; 1996). Có thể nói
rằng làng là biểu hiện của một hình thức dân chủ sơ
khởi của tổ chức hành chánh công quyền trong suốt tiến
trình lịch sử xây dựng nước Việt Nam. Tính cách tự trị
của ngôi làng đã làm nẩy nở một tình trạng tâm lý đặc
biệt là người dân trong làng cảm thấy rằng quyền tự
do cá nhân của mình hầu như tách rời khỏi quyền lực
của các tổ chức cai trị thuộc chính quyền trung ương.
Người dân Việt Nam ngày xưa thường rất hãnh diện và
cảm thấy danh dự vì mình xuất phát từ một làng quê ở
một tỉnh nhỏ bởi vì dưới mắt của mọi người khác họ không
bị khinh thị là kẻ trôi sông lạc chợ, người tứ xứ. Làng
không phải chỉ gồm có những người hiện cư trú ở đó mà
bao gồm cả những người có gốc tích từ làng mà ra và
vẫn được xem là dân làng mặc dù chỉ trở về làng một
vài lần trong đời. Dân làng có thể sinh sống ở một vùng
khác nhưng bao giờ ngôi làng cũ vẫn là "quê mẹ"
của họ và vẫn tiếp tục nộp thuế thân ở làng, đóng góp
vật chất hoặc tinh thần cho làng mặc dù họ không được
hưởng những lợi lộc vật chất, con cái họ sinh ở nơi
khác nhưng họ lại muốn đăng ký tên của đứa con ở làng
cũ. Nhiều trường hợp người của một làng cũ cố gắng thu
xếp một góc nhỏ ở làng để cất lên một gian nhà lá đơn
sơ dùng làm nơi kê bàn thờ tổ tiên.
Có những làng đầu tiên được lập nên bởi một gia đình,
người trong gia đình, cùng với sự trợ lực của một số
người lao động đi theo, cật lực phá rừng, khai khẩn
đất hoang và mở rộng đất đai rồi nếp sống tập thể lần
lần được tổ chức theo hình thức những làng mạc khác.
Khi số dân tăng, tập thể mới nầy có thể xin chính quyền
trung ương cho phép lập thành một làng mới gọi là xin
tách rời con dấu biệt triện. Có khi một người hoặc một
nhóm người đứng ra xin được quyền làm chủ các đất đai
bị bỏ hoang để lập thành một làng mới nhưng phải cam
kết đóng thuế ruộng đất cho chính quyền trung ương sau
khi khai khẩn đất hoang đã được tiến hành mọt thời gian
nhất định. Triều đình nhà Nguyễn khuyến khích những
vụ khẩn hoang kiểu nầy để mở rộng phạm vi cày cấy cho
đất nước. Người dân hoàn toàn tự do lựa chọn khai khẩn
bất, lạp thành làng mạc bất cứ vùng đất hoang nào mà
họ cho là tốt và sau đó chỉ cần báo trình với quan để
trở thành sở hữu chủ.
Chương
3
Sau khi tái chiếm các vùng đất ở Nam Kỳ vào những năm
cuối thế kỷ 17, Nguyễn vương Phúc Ánh liền cho lập ngay
những làng mạc mới. Tất cả hạng dân, binh và nhất là
người dân nghèo đều phải cày cấy, làm ruộng. Nhiều dân
ở các vùng khác nhau được chiêu mộ để đi khẩn hoang
lập ấp gọi là điền tốt đặt dưới quyền điều khiển của
một viên quan triều đình gọi là Điền tuấn quan. Những
điền tốt đi khai hoang được nhà nước cấp cho trâu bò,
nông cụ nhưng phí tổn cho việc cung cấp nầy phải được
trả lại cho chính quyền bằng cách nộp một số hoa màu,
gạo thóc vào những mùa gặt hái. Ở những chốn rừng sâu,
những người đi khai hoang được tổ chức thành những trại
nông nghiệp gọi là đồn điền trong đó có những nhóm gọi
là toán hoặc đội đồn điền. Người nào có công tuyển mộ
được nhiều điền tốt từ 5 người trở lên thì được cho
giữ chức cai trại, được miễn thuế thân và khỏi phải
làm việc nặng lao nhọc.
Như vậy, làng là một tổ chức cộng đồng thực sự, là kiểu
mẫu của một đại gia đình nới rộng mà quyền lực của giới
hữu trách trong làng cũng tương tựa như quyền lực của
người cha trong từng gia đình riêng rẽ.
Trong thực tế, định chế tổ chức gia đình Việt Nam từ
lâu đời đã rập khuôn theo lối tổ chức của người Trung
Quốc và vẫn không thay đổi cho tới khi có sự xuất hiện
của người Âu Châu. Khuôn mẫu gia đình nầy tương tựa
như khuôn mẫu đại gia đình thời cổ của người La Mã.
Đại gia đình rất đông đúc trong đó người cha có một
quyền uy rộng lớn nếu không nói là áp đảo "ăn hiếp"
tất cả mọi thành viên trong nhà, bao lâu người cha còn
sống thì kẻ dưới dù thuộc hàng con, hàng cháu đều phải
phục tùng nhất là khi người cha nầy là đích tôn, trưởng
tộc.
Trước thời đại Gia Long, quyền gia trưởng của người
cha là tuyệt đối, toàn quyền quản lý tài sản của gia
đình mình, vợ và con phải đóng góp thêm cho tài sản
của gia đình, phần đóng góp của họ không được cất riêng.
Có rất nhiều trường hợp người cha đã xử dụng quyền gia
trưởng của mình để bán vợ, đợ con và thậm chí có toàn
quyền sinh sát vợ, con. Ông có quyền tuyệt đối trong
quyết định kén dâu, chọn rể và tổ chức hôn lễ cho con
cái. Có thể nói, địa vị của người cha trong gia đình
kể từ thời Hậu Lê trở về trước là địa vị của một ông
vua con, một kẻ chuyên chế tuyệt đối trong nhà mình.
Khi người con đầu lòng của người cha được sinh ra là
con trai thì đứa con nầy được coi là "thái tử"
nối nghiệp. Nếu trong nhà chỉ toàn là con gái và đứa
em út mới sinh lại là con trai thì đứa em trai miệng
còn hôi sửa nầy sẽ là ông vua con trong gia đình nếu
người cha chết đi trước khi cậu út nầy biết bò, biết
đứng. Ngoài ông vua con trong gia đình, còn có một ông
"thái thượng hoàng" tức là ông nội hoặc ông
cố nội hoặc ông "trưởng tộc" luôn để mắt theo
dõi người mẹ góa trong việc tạm thời coi sóc đứa con
trai nối nghiệp và đảm nhiệm việc quản lý tài sản của
gia đình. Thân phận của người mẹ và những người con
gái trong gia đình bị coi nhẹ nếu không nói là bị bỏ
quên.
Luật Gia Long giới hạn quyền của người gia trưởng:
phạt 100 trượng người cha nào đánh chết con. Kẻ nào
bán hay cho thuê vợ thì bị phạt 80 trượng.
Dân luật 1931 ở miền Bắc Việt Nam và dân luật 1936 ở
miền Trung Việt Nam vẫn tiếp tục ấn định rằng con và
cháu sống với cha mẹ hay ông bà thì phải hoàn toàn phụ
thuộc vào người chủ gia đình. Con cái không được đi
khỏi nhà của người cha nếu không được người cha cho
phép. Vì đạo hiếu, cho nên con cháu không được thưa
kiện cha mẹ hoặc ông bà. Tuy nhiên, theo luật pháp mới
cha mẹ không có quyền cho thuê con cái của mình hay
gán con để trả nợ nhưng cha mẹ bao giờ cũng có thể cho
con cái vị thành niên còn ở dưới quyền của mình được
đi làm thuê trong một thời hạn nhất định. Quyền cha
mẹ trừng phạt con cái từ đây chỉ có thẻ được thực hiện
trong những giới hạn cần thiết để duy trì quyền lực
của người cha.
Cuộc Nam tiến của người Việt Nam không phải lúc nào
cũng bằng phương cách hòa bình. Nói như thế không có
nghĩa là người Việt Nam chỉ biết dùng bạo lực để nới
rộng thêm lãnh thổ của mình mà phải nói rằng người Việt
Nam là những người khôn ngoan và có bản lĩnh trong chính
sách di dân chiếm đất: Từ khi bắt đầu đi về phía Nam
cho đến năm 1689 thì di dân Việt Nam ở vùng Sài Gòn
- Gia Định chỉ có khoảng trên dưới 10,000 người. Khi
người Pháp bắt đầu xâm lăng chiếm Gia Định vào năm 1861
thì dân số người Việt Nam chính gốc có vào khoảng 2
triệu người và vùng đồng bằng sông Cửu Long nguyên trước
kia là một vùng đầm lầy hoang địa của người Cao Miên
thì nay trở thành vựa lúa phì nhiêu của triều đình nước
Đại Nam.
Thói thường, dư luận cho rằng người Cao Miên ở Nam
Kỳ bị người Đại Nam tàn sát để chiếm đất . Đây là một
dư luận thiên vị nhằm mục đích gầy hận thù sắc tộc.
Trên thực tế, một phần người Cao Miên chịu đồng hóa
và chung sống một cách rất hài hòa với người Việt Nam,
một phần khác không chịu chung sống với người mới đến
nên tự ý bỏ đi nơi khác, ở những nơi không có sự hiên
diện của người Việt Nam.
Tuy nhiên, người Việt Nam ở Nam Kỳ không phải luôn
luôn giữ được bản chất thuần chủng Việt tộc của mình
mà họ cũng chịu ảnh hưởng của một sự đồng hóa ngược
chiều từ các sắc tộc,-"những người chủ cũ của vùng
đất Nam Kỳ", khiến cho người Việt Nam ở Nam Kỳ
càng lúc càng có rất nhiều nét khác biệt với người Việt
Nam ở Bắc Kỳ nếu không nói là khác biệt hoàn toàn: vóc
dáng người Nam Kỳ cao hơn, giọng nói cũng khác đi, tánh
tình thuần hậu, chân chất, cởi mở, cầu tiến hơn là người
Bắc Kỳ nhưng siêng năng, cần cù thì không bằng. Làng
mạc trong miền Nam không có nhiều dấu vết kỷ niệm của
tổ tiên và thần thánh để có thể giữ chân người dân làng
từ đời nầy qua đời khác giống như ở miền Bắc.
Qua nhiều biến chuyển lịch sử, nước Cao Miên ở phía
Nam và các nước thuộc bộ tộc Lào ở phía Tây Bắc trở
thành những nước hàng rào và dưới quyền kiểm soát của
triều đình Đại Nam. Các lãnh thổ của các bộ tộc thiểu
số miền cao nguyên Trung Kỳ hoàn toàn thần phục dưới
chế độ cai trị của triều đình Huế. Trung tâm quyền lực
được di chuyển về phía Nam và thủ đô của nước Việt Nam
không còn là Thăng Long- Hà Nội nữa nhưng lại là Phú
Xuân-Huế, tạo thành một hố cách biệt tình cảm giữa hai
miền Bắc - Nam nhất là đối với những thành phần tự tôn
mặc cảm cố vọng về nhà Hậu Lê, không thật lòng chịu
phục nhà Nguyễn. Thêm vào đó, nhà Nguyễn chú trọng khai
phá, phát triển vùng đất Nam Kỳ khiến cho người dân
Bắc Kỳ cảm thấy như mình bị triều đình lơ là bỏ rơi
và như vậy có nghĩa là nhà Nguyễn không thể nào chiếm
được lòng dân người miền Bắc trong việc phát triển xây
dựng nước và giữ gìn lãnh thổ nhất là các vùng đất biên
giới Việt Nam - Trung Quốc; ngay cả những người miền
Bắc đã di cư vào sinh sống ở miền Nam qua nhiều đời
cũng không trung thành với nhà Nguyễn. Rốt cuộc rồi,
nhà Nguyễn chỉ còn có thể trông cậy vào sự chung thủy
của người dân từ Thuận Hóa trở vào đến Quảng Nam, ngoài
ra thì chung quanh toàn là những kẻ phục tùng bất đắc
dĩ, là những "kẻ nội thù" chỉ chờ thời cơ
để phản lại nhà Nguyễn.
Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 không bị lâm vào
tình cảnh khốn đốn so với các nước Á Châu khác nhưng
lại có một ung nhọt bất trị là "mê ngủ", chỉ
biết có Trung Quốc là mẫu mực: các kỹ thuật nông nghiệp,
kỹ nghệ, y học, tất cả đều mục nát, thoái hóa vậy mà
Việt Nam vẫn tiếp tục noi theo. Nền ngoại thương bắt
đầu khởi sắc dưới triều đại Minh Mạng nhưng rồi lại
thụt lùi vì chính sách bế quan, tỏa cảng của triều đại
Thiệu Trị và Tự Đức. Các kỹ thuật tân tiến của Tây phương
trước kia được Gia Long và Minh Mạng chú trọng áp dụng
trong việc phát triển tiềm năng quân sự và kinh tế thì
nay lại bị chìm trong quên lãng để quay về với mớ lý
thuyết mơ hồ, vô dụng của nền Khổng học cũ rít đến mức
độ Tự Đức phải lên tiếng thức tỉnh đoàn ngũ Nho thần
lơ láo của mình.
Nho giáo được nhà Nguyễn ưu đãi làm mất lòng Phật giáo.
Chính sách bách hại những người theo đạo Gia tô dù rằng
để ngăn ngừa người trong nhà nối giáo cho giặc ngoại
xâm nhưng cũng là một cái cớ để kẻ ngoại quốc kiếm chuyện
gây hấn.
Có thể tóm tắt mà nói rằng, nước Đại Nam dưới triều
đại Tự Đức đã bị bao vây tứ phía, từ bên trong ra tới
bên ngoài
Chương
4
PHAN THANH GIẢN (1796-1867)
Tự là Tĩnh Bá và Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu
là Mai Xuyên, người xã Bảo Thạnh, Bảo An, trấn Vĩnh
Thanh (huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre trước năn 1975), đỗ
tiến sĩ vào niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), trải qua
3 đời hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, chức quan
cao Hiệp Biện Đại Học Sĩ . Năm 1862 được cử làm trưởng
đoàn thương thuyết và ký hoà ước Nhâm Tuất với đoàn
quân xâm lược Pháp ở Sài Gòn. Năm 1863 được cử làm khâm
mạng đại thần chánh sứ sang nước Pháp để điều đình hủy
bỏ hòa ước Nhâm Tuất (1862) và chuộc lại 3 tỉnh miền
Đông Nam Kỳ của nước Đại Nam đang bị mất vào tay đoàn
quân xâm lược Pháp.
Năm 1864 thương thuyết với đặc sứ Pháp Aubaret về việc
hủy bỏ hòa ước Nhâm Tuất 1862 để ký kết một hoà ước
mới (thường gọi là hòa ước Aubaret 1864) nhưng vì Tự
Đức và triều đình Huế cứ tiếp tục chính sách trả giá
kéo dài thời gian thương lượng để chờ thời cơ phản công
đánh chiếm lại các tỉnh bằng võ lực. Cùng một lúc, dư
luận Pháp, chính phủ Pháp đã đổi ý ngả theo chủ trương
chiếm đất làm thuộc địa của nhóm chính quyền quân nhân
của họ ở Sài Gòn cho nên họ đã yêu cầu Aubaret ngưng
thương thuyết, tuyên bố không có hoà ước 1864, hoà ước
Nhâm Tuất 1862 đã được hai nước phê chuẩn có hiệu lực
chấp hành.
Nhóm quân phiệt Pháp ở Sài Gòn chuẩn bị gây hấn. Phan
Thanh Giản lại được giao trọng trách Kinh lược sứ 3
tỉnh miền Tây Nam Kỳ để đối phó. Năm 1867, quân binh
và tàu chiến của đoàn quân xâm lược Pháp kéo xuống miền
Tây, bao vây tỉnh thành Vĩnh Long. Từ soái hạm l' Ondine,
đề đốc La Grandière cử người đưa thư buộc nộp thành.
Sau khi viết thư yêu cầu La Grandière ra lệnh cho đoàn
quân xâm lược Pháp không được nhiễu hại dân chúng và
sau khi để lại lời trối cho con cháu không được hợp
tác với người Pháp, ông ra lệnh quan binh dưới quyền
ngưng chống cự, rồi nhịn đói, uống độc dược tự xử.
*Năm 1856 Ông được cử nhận lãnh chức Tổng Tài để trông
coi việc biên soạn bộ sử Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục.
*Ông là tác giả của tập Lương Khê Thi Văn Thảo.
|
Đi sứ nước Pháp
Chín tầng lồng lộng
giữa trời thinh,
Phụng chỉ ra đi buổi sứ trình.
Lo nỗi nước kia còn phiến biến,
Thương bề dân nọ cuộc giao chinh.
Nghìn trùng biển cả sang tây địa,
Muôn dặm đường xa thẳng đế kinh.
Mây nước sang qua cùng Pháp quốc,
Rước đưa mừng rỡ cuộc hòa minh.
*
Tuyệt cốc (1)
Trời thời, đất lợi,
lại người hòa,
Há để ngồi coi phải nói ra.
Lăm trả ơn vua, đền nợ nước,
Đành cam gánh nặng, ruổi đường xa.
Lên ghềnh xuống thác, thương con trẻ,
Vượt biển trèo non, cám phận già.
Cũng tưởng một lời an bốn cõi,
Nào hay ba tỉnh lại chầu ba (2)
.
(Dương Quảng Hàm, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển,
Bộ Giáo Dục xuất bản, Sài Gòn 1968)
(1) Tuyệt cốc: không ăn thóc, nhịn đói.
(2) Ba tỉnh lại chầu ba: chầu có nghĩa là thêm
vào. Có ý nói rằng quân xâm lược đã được 3 tỉnh
miền Đông bây giờ lại đánh chiếm thêm 3 tỉnh miền
Tây.
|
 |
Chương
5
CUỘC ĐỜI NGOẠI GIAO CỦA
ÔNG PHAN THANH GIẢN
Cuộc đời ngoại giao của ông Phan Thanh Giản khởi đầu
kể từ khi đoàn quân viễn chinh Pháp-Tây Ban Nha đánh
bại tướng tài ba của nước Đại Nam Nguyễn Tri Phương
nơi chiến lũy Kỳ Hoà và sau khi viên khâm sai đại thần
Nguyễn Bá Nghi được triều đình Tự Đức ở Huế trao cho
toàn quyền đối phó với người Pháp.
Thay vì tiếp tục dùng giải pháp quân sự để kháng cự
thì Nguyễn Bá Nghi lại áp dụng kế hoãn binh (ĐTLCB,
đệ tứ kỷ III, quyển XXIV, trang 208, bản dịch, Hà Nội)
sai người đi cầu hòa thương luợng với Charner trên chiến
hạm Primaugel đậu trên sông Sài Gòn. Từ lúc bắt đầu
thương thảo về những điều kiện do kẻ địch đưa ra để
ngưng chiến và tái lập hòa bình, Nguyễn Bá Nghi không
những không chấp nhận những điều kiện đó mà còn trao
thơ trách cứ cho rằng những đòi hỏi của người Pháp chỉ
có lợi cho nước Pháp và có hại cho nước Đại Nam mà thôi
và người Pháp A. Schreiner đã đưa ra một sự phê phán
rằng: "Những người An Nam đi thương thuyết họ đã
quên một hệ quả cốt yếu của chiến tranh là kẻ chiến
bại không được phép đòi hỏi lợi lộc." (Le négociateur
annamite feignait ignorer une conséquence essentielle
de la guerre, que le vaincu ne saurait reclaimer des
avantages) (A.Schreiner, Abrégé de l' Histoire d' Annam,
trang, 207, 208, nhà xuất bản Chez l'Auteur, Sài Gòn,
1906).
Ngày 26 tháng 4 dl năm 1861 Charner thư hồi đáp cho
Nguyễn Bá Nghi như sau:
-"Rằng, nếu hoà ước được ký kết, nền ngoại thương
của người An Nam, vốn đã bị tiêu hại vì sự phong tỏa
của những tàu tuần tra thì nay đã lấy lại được sự giao
lưu một cách tự do, rằng với sự thực hiện cơ sở của
người Pháp ở Sài Gòn và Mỹ Tho thì sự thịnh vượng của
miền Nam Kỳ hạ sẽ được phát triễn cao hơn là trước khi
có chiến tranh xảy ra, rằng, thay vì gây khốn khó thì
trong nhiều tình huống, nước Pháp có thể yểm trợ hậu
thuẫn cho triều đình Huế. Khi chuyển đến quan ngài phòng
biên quân thứ những nhận định nầy, bản chức mong rằng
sẽ hân hạnh nhận được một sự hồi đáp khả dĩ có thể dự
đoán được một vài cơ may hoà giải ." ( Le vice-amiral
répondit le 26 avril "que, si la paix était signée,
le commerce extérieur dea Annamites, alors détruit par
les croiseurs, reprendrait librement son cours; que
par le fait de l' établissement des Français à Saigon
et à Mỷ Tho, la prospérité de la Bassse-Cochinchine
se développerait même au delà de ce qu' ell était avant
la guerre, qu'enfin, la France, au lieu de créer des
difficultés au gouvernement de Huế, pourrait, dans bien
des circonstance, lui prêter son appui.En transmettant
ces réflexions au phòng biên quân thứ, il dit qu ' il
serait heureux de recevoir une réponse qu ' il fit entrevoir
quelque possibilité de conciliation." (A. Schreiner,
sách đã dẫn, trang 208).
Trước đó 3 ngày (23 tháng 4 dl 1861), Charner đã ra
lệnh phong tỏa và cấm vận trên dòng sông Mê-Kong, trên
các sông lạch vùng đồng bằng của con sông nầy ngoại
trừ sông Sài Gòn và cấm mọi chuyên chở lúa gạo trên
vùng biển của đế quốc An Nam. Ngày 19 tháng 4 dl năm
1861 ra lệnh giới nghiêm trên toàn thể các vùng lãnh
thổ chiếm đóng. toàn bản văn lệnh cấm vận và lệnh giới
nghiêm của Charner được A. Schreiner ghi lại như sau:
- "Le vice-amiral commandant en chef les forces
navales françaises dans les mers de Chine, et les forces
de terre et de mer en Cochinchine;
Considérant qu' en attendant l' institution de tribunaux
compétents pour juger les crimes et d' élits, il est
urgent de pourvoir à leur répression;
Considérant, en outre, que la guerre cotinue d' exister
entre le gouvernement de l' Empereur et le gouvernement
de Huế:
Déclare:
Coformément à la loi du 9 au 11 août 1849, article 5,
chapitre II, les provinces de Saigon, de Mỷ Tho et tous
les territoires occupés par nos troupes son en état
de siège.
Néanmoins, conformément à l' article 7, chapitre III
de la loi précitée, l' autorité civile continue, comme
par le passé, d' exercer le pouvoir dont ell est révêtue,
et ce n' est que du moment où cette autorité devient
insuffisante que, sur un ordre d' inforner du commandant
en chef, l' action de l' autorité militaire commence.
Le général commandant les troupes du corps expéditionnaire,
les commandants particuliers de Saigon et de Mỷ Tho,
sont chargés de donner toute la publicité possible à
la présente déclaration " (A.Schreiner, đã dẫn;
trang 205, 206).
Tạm dịch:
- " Thủy sư phó đề đốc tư lệnh các lực lượng hải
quân của nước Pháp ở hải phận Trung Hoa và các lực lượng
bộ binh ở Nam Kỳ;
Chiểu chi, trong khi chờ đợi các định chế tòa án có
thẩm quyền xé xử các tội phạm hình sự và các trường
hợp khinh tội, cần phải áp dụng phương cách khẩn cấp
để chận đứng những tội phạm đó;
Chiểu chi, ngoài ra, trong khi chiến tranh vẫn tiếp
diễn giữa chánh phủ của triều đình nước Pháp và chính
phủ của triều đình Huế;
Nay tuyên bố:
Chiểu chi, theo luật (Pháp) ban hành ngày 9 và 11 tháng
8 d.l năm 1849, điều 5, chương II, nay đặt tình trạng
phong tỏa tại các tỉnh Sài Gòn, Mỹ Tho và các vùng lãnh
thổ do quân đội (Pháp) của chúng ta đang chiếm đóng.
Tuy nhiên, chiếu theo điều 7, chương III của luật vừa
kể trên, chính quyền dân sự vẫn tiếp tục, giống như
trong quá khứ, hành xử các quyền hạn đã được trao cho
đến khi nào chính quyền dân sự nầy không còn đủ năng
lực thì lúc đó vị chỉ huy quân sự mới cho áp đặt chính
quyền quân sự.
Tổng tư lệnh các lực lượng viễn chinh, các tư lệnh
đặc biệt trong các tỉnh Sài Gòn, Mỹ Tho chiếu nhiệm
vụ phổ biến rộng rãi tuyên bố nầy."
Khi gởi văn thư vừa kể trên, Charner đã đính kèm thêm
bản sao lệnh phong tỏa và lệnh giới nghiêm nầy khiến
cho phía người An Nam phải rụng rời. Trong tác phẩm
Histoire de l'Expédition de Cochinchine en 1861, của
Léopold Pallu de la Barrière có ghi lại phản ứng của
Nguyễn Bá Nghi khi phúc đáp cho Charner và được A. Schreiner
trích dẫn như sau :
Cette nouvelle, dit Pallu, consterna les Annamites.
Même après la prise de Mỷ Tho, ils avaient continu d'
espérer que les rigueurs de la guerre ne les atteindraient
pas dans un approvisionnement qui, pour eux, est la
première condition de la vie. Le Kinh lược se récria
sur tant de dureté, sur les faits accomplis, sur l'
inflexibilité des conditions qui lui étaient transmises,
enfin sur cette nouvelle calamité (3 mai 1861). "Depuis
trois ans que vous nous faites la guerre, rien dans
ce malheureux empire n' a échappé aux coups que vous
avez portés. Nos magasins ont été incendiés, nos forteresses
prises et démantelées, nos bâtiments de guerre brûlés,
notre commerce ruiné; nos jonques chargées d'étoffes
précieuses ont été coulées, nos soldats tués, nos maisons
détruites. Vous nous demandez de l' argent; nous sommes
devenus pauvres. Est-ce donc un spectacle agréable au
Maîttre du ciel que celui de tant de calamités donc
vous êtes cause? Maintenant vous arrêtez les riz; nos
peuples mourront donc de faim." Et à la fin, non
sans fierté: "Puisque c' est la dernière ressource
que votre Excellence nous laisse, eh bien! nous trouverons
encore des armes et nous vous combattrons."
Le vice-amiral répondit (7 mai 1861) "qu' il ferait
ses efforts pour repousser les armes par les armes.
Tạm dịch: Tác giả Pallu nói rằng sự
kiện mới mẻ nầy khiến cho người An Nam bị sửng sốt.
Ngay cả vào lúc tỉnh Mỹ Tho đã bị chiếm cứ, họ vẫn còn
tiếp tục hy vọng rằng chiến tranh khắc nghiệt sẽ không
đụng tới nguồn thực phẩm mà đối với họ là điều thiết
yếu số một cho cuộc sống. Viên quan kinh lược cực lực
phản đối về những chuyện đã rồi, về tính cách không
co dãn của những điều kiện gởi tới cho ông và nhất là
tai họa mới nhận được (3 tháng 5 dl năm 1861). "Kể
từ sau 3 năm các ông gây chiến với chúng tôi, không
có một cái gì trong đất nước bất hạnh nầy thoát khỏi
được những trận đánh đấm của các ông mang tới cho chúng
tôị kho lẫm của chúng tôi bị thiêu rụi, thành quách
bị đánh chiếm và giựt sập, tàu chiến bị đốt cháy, việc
buôn bán của chúng tôi bị sụp đổ, ghe thuyền chở hàng
tơ lụa quý hiếm của chúng tôi bị đánh chìm, quân binh
của chúng tôi bị giết hại, nhà cửa bị thiêu đốt. Các
ông đòi tiền; chúng tôi trở thành bần cùng. Như thế
phải chăng là một cảnh tượng thú vị dâng lên cho đấng
tạo hóa với bao nhiêu tai họa do các ông gây ra? Nay
các ông lại chận ngăn lúa gạo và người dân của chúng
tôi sẽ bị chết đói." Và cuối thư, với lời lẽ không
kém phần tự phụ: "Và bởi vì đó là nguồn mạch cuối
cùng mà quan soái để lại cho chúng tôi, vậy thì chúng
tôi còn có có súng đạn, chúng tôi sẽ chiến đấu."
Viên Phó đề đốc viết thơ trả lời (ngày 7 tháng 5 dl
năm 1861) rằng: " ông ta sẽ cố gắng đẩy lui súng
đạn bằng súng đạn
Chương
6
Tuy vậy, thơ hồi đáp của Charner cũng chưa làm đổ vở
cuộc thương thảo giữa đôi bên và vào ngày 7 tháng 6
dl năm 1861, Charner lại chuyển đến quân thứ Biên Hoà
một văn thư nhắc lại những điều kiện đòi hỏi để việc
tái lập hòa bình có thể thực hiện. Văn thư đó như sau:
"J' aurais répondu moins tardivement à la terre
que Votre Excellence m' a fait l' honneur de m' adresser,
si je n' avais été persuadé que, dans ma précédente
correspondance, j'ai fait connaitre, d'une manière détaillée,
les bases d' après lesquelles nous pourrions conclure
une paix durable.
Toutefois, dans la crainte d' avoir commis quelque
oubli, je vais récapituler les conditions d' après lesquelles
je dois traiter:
1) Libre exercice du culte chrétien.
2) Cession de Saigon et de sa province.
3) Cession de Mỷ Tho et du terrain qui l' entoure.
4) Cession de Thủ Dầu Một, dans la province de Biên
Hòa.
5) Libre navigation des cours d' eau de l' Ouest.
6) Libre circulation des Européens dans l' intérieur
de l'empire, à la condition pour eux de se soumettre
aux lois du pays.
7) Remise entre les mains du consul du port le plus
voisin, de Européens prévenus d'infraction aux lois.
8) Droit de représentation réciproque des deux souverains
de France et de Cochinchine à la cour l' un de l'autre.
9) Établissement de consulats et liberté donnée au commerce
européen dans les ports principaux.
10) Amnestie pour tous les faits relatifs à la guerre.
11) Indemnité de quatre millions de piastres.
12) Admission de l'ambassadeur espgnol à prendre part
au traité à intervenir.
Jusqu' à présent, Votre Excellence, ne tenant aucun
compte des faits accomplis, n'a approuvé que deux clauses,
le libre exercice du culte chrétien et l'admission de
l'ambassadeur espagnol à prendre part au traité.
Votre Excellence s'est plainte constamment de l'exagération
de mes demandes, mais tout en m'assurant de son vif
désir de la paix, elle a jusqu'à présent évité de formuler
d' une manière précise les concessions qu' elle consentirait
à nous faire.
Votre Excellence a plusieurs fois fait remarquer qu'en
retour des avantages que nous réclamions, nous n'avions
aucune compensation à lui présenter, et que la cession
de la province de Saigon équivalait à celle de toutes
les provinces de l' Ouest de la Basse-Cochinchine.
J'aurai l'honneur de répondre encore que la paix permettra
à l'empire d' Annam de faire sûrement et avantageusement
le commerce; de cesser d'être sous le coup de nouvelles
attaques de notre part; de pouvoir communiquer avec
les provinces de l' Ouest, qui sont exposées dans ce
moment à échapper à sa domination.
Si la guerre, au contraire, se prolonge, la situation
de l' empire ne peut manquer de s'aggraver. Votre Excellence,
sans nul doute, a dû déjà remarquer cette tendance."
(A.Schreiner; sách đã dẫn ; trang 208, 209).
Tạm dịch:
"Sở dĩ bản chức chưa hồi đáp ngay lá thư của ngài
là vì bản chức đinh ninh rằng trong văn thư trước đây
bản chức đã thông báo đầy đủ chi tiết các cơ sở mà theo
đó đôi bên chúng ta có thể dựa vào để đi tới một kếc
cuộc hòa bình lâu bền.
Tuy nhiên, vì sợ rằng có điều thất thố, bản chức sẽ
tổng hợp lại các điều kiện mà bản chức cần bàn định:
1 Tự do theo đạo Gia tô.
2) Trao nhượng thành phố Sài Gòn và tỉnh thành Gia Định.
3) Trao nhượng tỉnh Mỹ Tho và cá vùng đất phụ cận của
tỉnh nầy.
4) Trao nhượng Thủ Dầu Một nằm trong tỉnh Biên Hòa.
5) Tự do lưu thông trên sông rạch miền Tây.
6) Người Âu Châu tự do đi lại trong nội địa nước Đại
Nam, tuân thủ luật lệ của nước nầy
7) Giao nạp cho trú sử tại một cảng gần nhứt những người
Âu châu vi phạm luật pháp.
8) Quyền đại diện hổ tương giữa 2 vương quốc Pháp và
Nam Kỳ trước tòa án của mỗi nước.
9) Thiết đặt các trú sứ và quyền tự do thương mại cho
người Âu châu tại các thương cảng chính yếu.
10) Ân xá cho tất cả những hành vi đã qua có liên hệ
với chiến tranh.
11) Bồi thường chiến phí bốn triệu đồng.
12) Thừa nhận cho đại sứ nước Tây Ban Nha được dự phần
vào việc ký kết hiệp ước.
Cho đến nay, thượng quan vẫn không đếm xỉa gì tới thực
tế đã xảy ra mà chỉ chịu chấp nhận có 2 điều khoản là
tự do truyền bá đạo gia tô và thừa nhận cho dại sứ Tây
Ban Nha đực tham dự vào việc đinh ước.
Thượng quan cứ lập đi lập lạisự oán trách về những
đòi hỏi mà thượng quan cho là quá lố của bản chức, và
một mực chứng tỏ ước vọng hòa bình của thượng quan nhưng
cho đến lúc nầy thượng quan vẫn tránh né đưa ra một
phương thức chính xác về những nhân nhượng mà thượng
quan đồng ý trao cho chúng tôi.
Thượng quan đã nhiều lần lưu ý rằng những lợi lộc mà
chúng tôi đòi hỏi thì lại không có một khoản đền bù
ngược lại từ phía chúng tôi đề nghị với thượng quan,
và thượng quan cho rằng trao nhượng một tỉnh Sài Gòn
không thôi thì cũng đủ ngang bằng với các tỉnh miền
Tây của Nam Kỳ.
Bản chức lại hân hạnh phúc đáp rằng hoà bình sẽ khiến
cho nước An Nam có được một nền thương mại vững mạnh,
sẽ tránh cho quý quốc không còn phải chịu những sự tấn
công mới của chúng tôi, sẽ khiến cho quý quốc có thể
giao lưu với các tỉnh miền Tây mà hiện nay được thoát
khỏi sự thống trị của chúng tôi.
Ngược lại, ví bằng chiến tranh cứ kéo dài thì tình cảnh
kốn đốn của quý quốc càng trầm trọng thêm. Ngài thượng
quan chắc hẵn là đã phải nhận định tình thế theo chiều
hướng đó."
*
Lời lẽ cuối thơ phúc đáp của Charner vừa dẫn ra ở trên
đầy giọng hăm dọa chẳng hạn như "tránh được những
sự tấn công mới của chúng tôi" , "Khiến cho
quý quốc có thể giao lưu với các tỉnh miền Tây hiện
nay được thoát khỏi sự thống trị của chúng tôi",
" . . .chiến tranh kéo dài thì tình trạng khốn
đốn của quý quốc càng trầm trọng thêm."
Không những hăm dọa mà còn cho thấy được ý đồ tham
vọng xâm chiếm bành trướng lãnh thổ của đoàn quân viễn
chinh xâm lược Pháp-Tây Ban Nha ngay từ giai đoạn nầy.
Trong văn thơ hồi đáp, Charner có tham chiếu văn thư
của Nguyễn Bá Nghi trước đó gởi cho ông ta. Vậy Nguyễn
Bá Nghi đã viết gì trong văn thư đó? Không có thư tịch
hoặc sách vỡ nào chép lại các văn thư giao dịch của
Nguyễn Bá Nghi trong khi thương lượng với Charner. Tuy
nhiên, sách ĐTLCB của sử quán triều Nguyễn có ghi lại
những lời cố vấn của Trương Đăng Quế về việc Nguyễn
Bá Nghi giảng hòa làm kế hoãn binh như sau.
Chương
7
Trương Đăng Quế dâng sớ nói: Người Tây Dương ý muốn
chiếm đóng Gia Định, lại muốn cắt lấy tỉnh Tường tỉnh
Biên, yêu cầu như thế, sợ hòa cuộc không thành. Trừ
ra việc chiến việc thủ, không có kế gì khác. Nhưng các
quan ở quân thứ, xét kỹ thực tình, nhiều người kém khí
hăng hái, nên cho Lê Quang Tiến, Thân Văn Nhiếp trích
lấy vài vệ biền binh trước phái đi hiện còn ở Thuận-Khánh
để nhờ sức mới, chia nhau phòng bị cố giữ. Đỗ Thúc Tỉnh,
Nguyễn Túc Trưng cũng giục đến ngay để làm công việc
của các viên ấy, khiến cho An, Hà, Vĩnh Long có chỗ
nương tựa. Đấy là việc cần cấp lúc bấy giờ. Sức cho
Nguyễn Bá Nghi lại viết thư cho Tây dương. (Thư nói:
nước Tây dương đến đây, chỉ vì thông thương, lập phố,
Giảng đạo mà thôi. Không phải là tham đất đai của ta,
nay đã được như nguyện, lại muốn cắt lấy Gia Định, là
cớ làm sao? Nếu bảo là cứ lấy sức khỏe đánh mà lấy,
thì cứ chiếm cứ không trả lại, còn cần phải đợi nước
ta cắt mà giao cho làm gì? Hay là theo như việc cũ ở
Quảng Đông (Trung Quốc) người Hán người Tây dương chia
nhau mà cai trị. Về thuế khóa, trừ thuế dinh điền ra
không kể, phàm thuế lệ thuyền buôn, đều chia đôi. Tính
từng năm thu lấy để đền vào phí tổn. Định Tường, Biên
Hòa mỗi tỉnh cho lập một phố để buôn bán. Như thế mới
có thể giảng hòa được. Nếu lấy sức mạnh mà chiếm cứ,
sợ dân không theo, ngày nay lấy thế tự lực mà bắt hiếp
dân, ngày sau chẳng khỏi lại sinh ra mối hiềm khích,
tai họa binh đao không bao giờ thôi. Thực không phải
là phúc tốt của binh dân 2 nước. Đại Ý như thế). Xem
Tây dương trả lời thế nào, sẽ tùy nghi xử trí. Vả lại,
để đợi Quang Tiến, Thúc Tỉnh đến, tìm nhiều cách chiêu
tập dân binh, rồi tính cách khôi phục, đấy là cách thứ
2." (ĐNTLCB; đệ tứ kỷ III; quyển XXIV, trang 208,
209, bản dịch, Hà Nội 1974).
Rất có thể văn thư của Nguyễn Bá Nghi gởi cho Charner
đã dựa vào những chỉ thị và cố vấn của Trương Đăng Quế
và sau đó Charner mới phúc đáp với những lời lẽ hăm
dọa như đã dẫn chiếu ở phần trên. Từ những lời cố vấn
nầy của Trương Đăng Quế người ta có thể thấy được rằng
triều đình Huế đã có khuynh hướng chủ hòa thương luợng
nhưng vẫn tiếp tục chuẩn bị quân sự để chiến đấu và
cho rằng những thất bại về mặt quân sự là do các tướng
triều đình cầm quân yếu kém.
Trương Đăng Quế u mê về sức mạnh của quân đội xâm lược
Pháp cho nên mới đánh giá các tướng lãnh của triều đình
như thế: Nguyễn Tri Phương phải bỏ đồn Kỳ Hòa để rút
chạy về Biên Hoà nhưng không ai có thể phủ nhận Nguyễn
Tri Phương là một tướng lãnh tài ba đứng nhứt triều
đình vào lúc đó. Các tướng lãnh sau Nguyễn Tri Phương
nơi quân thứ Biên Hòa chưa được dịp đọ sức với quân
Pháp nhưng dấu vết run sợ đã thấy phản phất, điển hình
qua quan khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi qua lời trình
tấu sau đây:
<
Lại xem trong khoảng niên hiệu Minh Mạng-Thiệu Trị
tiết thứ đánh giặc Khôi, đánh Xiêm La, Cao Man. Vì đất
Nam Kỳ nhiều sông ngòi, thủy binh cùng bộ binh tiếp
ứng lẫn nhau. Các hạng thuyền hải đạo, thuyền ô, thuyền
lê, nhẹ nhàng nhanh chóng dùng rất tốt. Những hạng súng
lớn đạn nặng đều dùng thuyền lớn chở từ kinh đô đi đường
biển chở đến. Còn hết thảy tiền, gạo, khí giới và thuyền,
các hạng đều do 6 tỉnh cung ứng, lấy vào đâu cũng thừa
thãi. Thế mà lấy toàn lực như vậy, đánh một giặc Khôi
phải 3 năm mới xong việc, dẹp một nước Cao Man cũng
2 năm mới giảng giải xong
Chương
8
Nay 2 tỉnh Gia Định, Định Tường là nơi quãng giữa trong
6 tỉnh, trên từ bọn sơn man, dưới đến cửa biển, người
Tây dương đã chiếm giữ được cả; còn 3 tỉnh Vĩnh Long,
An, Hà thì cách trở không thông, Biên Hòa đã liền sáp
với bọn ho. Rừng lớn đằng sau, nối đến đất man, rất
là chỗ đứt ngang. Tuy 4 tỉnh ấy đều có thuyền, nhưng
khó đối địch với tàu của Tây dương được. Cho nên thần
nói rằng dù cho có nhiều thuyền quân cũng chưa dùng
được là thế đó. Hiện nay Tây dương đã chiếm cứ Gia Định,
Định Tường, hòa hay không hòa, chỉ một việc ấy ta đã
thua thiệt rồi. Nếu hòa mà họ không trả lại 2 tỉnh ấy
thì ta chỉ có thua thiệt có bấy nhiêu thôi, mà Biên
Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên còn là của ta, đường
bộ đường biển có thể giao thông được, để cứu cấp trước
mắt, mà tính cách về sau. Nếu ta cho thế mà thua thiệt
mà không hòa thì họ có chịu ngồi yên đâu, cả 6 tỉnh
Nam Kỳ rồi cũng mất cả. Việc buôn bán trên sông, và
việc vận tả đường biển đều đứt mất cả. Chỗ đáng lo ngại
khó nói ra được. Thần không dám nói điều quá đáng. Cho
nên thần nói rằng: hòa thì dẫu thua thiệt mà sự thế
Nam Kỳ còn làm được, nếu không thì thần không biết chịu
tội vào chỗ nào, là thế đó. Ngày nay thế giặc như thế,
hiện tình 6 tỉnh như thế, việc đánh hay giữ không thể
thi thố được. Không có sự thực đánh giữ, chỉ phô trương
hình thức, chỉ cho giặc chóng sinh lòng mà thêm tổn
hại thôi. Cho nên tôi gần đây không đắp đồn lũy, bớt
việc trưng lương gọi lính, là vì cớ đó. Đấy là chủ ý
của tôi. Duy quân Tây dương yêu cầu quá đáng, tôi cố
sức biện bạch, đã đến 4 lần, mà khí thế của họ rất găng,
giỡ giọng dã man. Thần đã lại nói như trước, thực là
có chỗ không tiện, không chịu nổi, cho nên chưa dám
y theo. Đã phái người đưa thư. Viên quan Tây dương ấy
nói rằng: việc ấy khó giải quyết, đợi 10 ngày nữa sẽ
bàn lại. Vả lại, cứ như phái nhân trở về nói lại thì
xem giọng nói, cách khoản tiếp của họ, cũng như mấy
lần trước, không có tình ý gì khác. Xem thế thì đủ biết
ta không sinh sự với họ thì họ cũng chưa vội lấn áp
ta. Hãy đợi cho họ trả lời thế nào, sẽ tùy cơ mà làm.
Hiên nay sự thế 6 tỉnh Nam Kỳ như thế, chỉ có một chữ
hòa, còn có thể làm được. Nhưng nay hòa thì một khoản
mất đất, ta đã thua thiệt. Bởi họ cho là của họ đã lấy
được rồi, họ nhất vị cố giữ, ta kiếm lời biện bạch cũng
khó. Còn các khoản khác ta lấy lời lẽ biện bác, hoặc
có thể bớt đi được. Cuối mong hoàng thượng quyết đoán
mà làm, để cứu đỡ nỗi khổ cho dân binh từ Quảng Nam,
Quảng Ngãi trở vào Nam. Nếu hoàng thượng không quyết
đoán mà làm hai mặt kia còn về phần hạ thần thì làm
thư từ đi lại giảng thuyết; còn về phần quân thứ và
các tỉnh thì không dám trái lời của bộ, hoặc phái người
đi chiêu dụ binh dân, hoặc sửa đắp đồn lũy làm ra dáng
đánh giữ. Bên giặc dòm thấy ý ta không thực, lại cố
ý đánh hiếp ta. Thế thì đánh không được, giữ không được,
hòa cũng không được, thần không biết xử trí làm sao
cả".
Vua nói rằng: "Sự thế khó làm, trẫm đã biết hết
rồi. Ngươi có lòng chịu trách nhiệm, nên hết sức mà
làm, để tỏ khí tiết như cây khỏe gặp cơn bảo táp, là
được.
>> (ĐNTLCB đã dẫn; bản dịch; quyển XXIV; trang
210, 211, 212, 213).
*
Tháng 6 âl năm Tân Dậu (niên hiệu Tự Đức thứ 14) (1861),
ĐNTL ghi chép một đoạn văn rất là mờ ám như sau:
"Quan quân thứ Biên Hòa là bọn Nguyễn Bá Nghi
cùng với viên soái của Tây dương bàn, mật đem việc Tây
dương yêu cầu giảng hòa tâu lên. (Có 14 khoản chép ở
tháng 4 năm Tự Đức thứ 15 sau đây)." (ĐNTLCB; sách
đã dẫn; trang 226).
Nghi vấn đặt ra là tại sao sử quán nhà Nguyễn không
liệt kê ra ngay 14 khoản đòi hỏi của quân xâm lược Pháp
gởi cho Nguyễn Bá Nghi vào lúc đó mà lại đợi đến gần
một năm sau (tháng 4 â.l, năm Nhâm Tuất, niên hiệu Tự
Đức thứ 15/1862) mới chịu khai ra? Trong khoảng thời
gian gần 1 năm đó việc gì đã xảy ra? 14 khoản đòi hỏi
của người Pháp gồm có những gì?
Chương
9
Trước hết cần lưu ý: văn thư phúc đáp của Charner chỉ
nêu ra có 12 khoản và ĐNTL kê khai là 14 khoản. Như
vậy có thể suy định rằng kể từ sau văn thư phúc đáp
của Charner, hai bên vẫn còn tiếp tục bàn bạc thương
thảo và phía người Pháp lại gởi một văn thư tiếp theo
(có thể là trong vòng tháng 6 â.l năm Tân Dậu /1861)
trong đó ghi 14 khoản, tức là đòi hỏi thêm 2 khoản so
với 12 khoản đòi hỏi trong văn thư của Charner trước
đó. Như vậy, người ta thấy rằng càng kéo dài việc thương
lượng thì quân xâm lược càng đòi hỏi thêm và chính sự
lấn lướt nầy của người Pháp đã khiến cho Tự Đức nổi
nóng quở trách Nguyễn Bá Nghi và nhóm quân thứ ở Biên
Hòa là nhút nhát chỉ thấy chủ ý giảng hòa và lại cho
rằng những người theo đạo gia tô tiếp tay cho giặc ngoại
bang:
Vua dụ rằng: "Nguyễn Bá Nghi tự khi sai đi đến
nay chỉ thấy chủ ý giảng hòa, bởi vì không biết rằng
muốn cẩn thận về sau phải suy nghĩ tự trước, dễ dàng
nhận lời, để đến nỗi càng thêm khó làm mà thôị Nay nếu
không thi thố được việc gì, thì ra Tôn Thất Cáp đã lỡ
việc từ trước, Nguyễn Tri Phương lại làm hỏng việc ở
khoảng giữa, người lại không nên công trạng gì ở sau
cùng. Còn có thể gọi là chân tay tai mắt của vua vui
buồn cùng liên quan với nhau được ư ? Kể ra cái nghĩa
vua tôi ở khoảng trời đất, không sao trốn được. Ta trông
cậy về các ngươi là ở lúc nầy, mà các ngươi báo ơn nước
cũng ở lúc nầy. Cần phải cùng nhau báo ơn nước, làm
giấy tờ đi lại, biện bác, vặn bẻ, lấy lòng thành mà
cảm hóa, lấy lẽ phải ma bẻ bác đi, cốt cho điều gì họ
cũng nghe theo. Lại chọn chỗ núi rừng hiểm xa, đặt đồn
để giữ cho vững, chiêu tập các nghĩa sĩ, để mọi người
vui làm việc với ta, chỗ nào cũng đều là lính, là lương.Nếu
có sa sẩy cũng không đến nỗi thua to như trước. Đấy
cũng là cách làm thần diệu cho chóng thành hòa nghị
đó. Nếu lại bỏ việc đánh, việc giữ, thì có kế gì tốt
hơn để chế ngự họ.
Vả lại, Nguyễn Bá Nghi hiểu việc nhanh giỏi, Tôn Thất
Đính, Lê Quang Tiến dũng cảm hăng hái, Thân Văn Nhiếp
siêng thẳng khảng khái, Trần Đình Túc tài biện khả quan,
Trẫm đã chọ ra để dùng, mong mỏi rất nhiềụ Các ngươi
nên hết lòng báo ơn nhà nước cho chóng thành công, tất
được thưởng rất hậụ Nếu không làm thế nào để che được
cái lỗi các quan quân thứ lần trước, thì đều là một
hạng vô dụng, không có mặt mũi nào trông thấy ta nữa
". . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . .
Vua cho là Nguyễn Bá Nghi chỉ cứ nhất vị nhút nhát,
không từng lập kế giữ gìn huấn sức các tướng sĩ bao
giợ Nhân dụ quở rằng: "Về cách dụng binh, địa lợi
nhân hòa, không thể thiếu một mặt nào. Nay toàn cõi
Biên Hòa, há không có chỗ nào có thể đóng đồn giữ được,
bao nhiêu binh dõng, há đều là vô dụng hay saọ Chỉ bởi
tướng không tự cố gắng, thì quân không có chí chiến
đấu. Nguyễn Bá Nghi làm việc đã rất sơ sài khinh suất,
mà Tôn Thất Đính, Lê Quang Tiến, Thân Văn Nhiếp, Trần
Đình Túc, Nguyễn Túc Trưng cũng không thi thố được mưu
chước gì cả. Nếu quân bị tan rả thì trốn sao khỏi tội.
Vậy bọ ngươi phải hết lòng trù tính mà làm, cốt giữ
lấy Biên Hòa cùng Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên để giữ
vững cõi ven của tạ Rồi sau hoặc đánh, hoặc hòa sẽ dần
dần lấy lại 2 tỉnh Gia Định, Định tường. Trẫm đã ủy
cho bọn ngươi được chuyên việc đánh dẹp, cho được bày
mưu kế ra mà làm, chớ có quên lãng." (ĐTLCB, sách
đã dẫn, trang 226,227,228)
Cùng một lúc đó, Tự Đức đã sức nhắc lại các địa phương
phải nghiêm ngặt chia ghép dân theo đạo Gia tô, bắt
phủ huyện thích chữ vào mặt họ, ghép họ đến ở vào các
xã thôn không có đạo và phải quản thúc họ thật nghiêm.
Những chức sắc đạo gia tô vẫn tiếp tục bị giam cầm thật
chặt chẽ. Nếu quân Pháp đến nơi nào thì đem dân theo
đạo gia tô ở nơi đó mà giết cho hết. Phủ huyện nào chứa
chấp bao che cho dân theo đạo gia tô thì chiếu theo
quân luật mà trị tội. (ĐNTLCB đã dẫn; trang 227). Dân
đạo ở Biên Hòa là Phạm Văn Đệ bị ghép tội làm tay sai
gián điệp cho Pháp, Nguyễn Thị Tòng, Nguyễn Văn Bối
bị khép tội tiếp tế giao thông với giặc xâm lược. Tuần
phủ Nguyễn Đức Hoan dâng sớ xin đem 3 người ấy chém
ngay. Tự Đức y cho thi hành tức thì. (ĐTLCB đã dẫn;
trang 229).
*
Như trên đã đề cặp, sách thực lục của nhà Nguyễn vào
tháng 6 â.l năm Tự Đức thứ 14 (Tân Dậu/1861) có nói
tới việc người Pháp đưa ra 14 khoản đòi hỏi nhưng lại
thêm rằng (14 khoản nầy chép ở tháng 4 â.l năm Tự Đức
thứ 15 sau đây), tức là gần 10 tháng sau sách thực lục
mới chịu viết ra nội dung của 14 khoản đòi hỏi nầy.
Có 3 điểm cần truy cứu:
1/- Nội dung của 14 khoản đòi hỏi của người Pháp?
2/- Trong vòng 10 tháng đó có những biến động gì đã
xảy ra?
3/- Nội dung của 12 điều khoản trong định ước Nhâm Tuất
(1862)
*
A/- Nội dung của 14 khoản đòi hỏi của quân xâm lược
Pháp do sách thực lục ghi lại:
1 - Cho tàu Tây dương tự do thông hành ở trên các mặt
sông thuộc về phía tây phía nam thành Gia Định.
2 - Tha cả cho các người tù thuộc về trong thời đánh
nhau.
3 - Ở mặt sông Biên Hòa, Sài-gòn không đắp đồn lũy đặt
quân phòng bị.
4 - Cho được truyền giáo giảng đạo công hành. Vì 2 chữ
công hành đó, cốt là: họ người nào theo đạo, được tùy
tiện giảng tập, người nào muốn tiến theo học đạo cho
giỏi, thì mặc sự thích muốn của họ không nên đặt phép
ngăn trở.
5 - Người Tây dương phạm luật, giao cho quan Tây dương
xét xử.
6 - Người Tây dương công nhiên đi khắp nơi trong nước
ta, nhưng phải tuân theo đúng điều luật.
7 - Tàu Tây dương buôn bán ở cửa biển nào thuận lợi,
và quan Tây dương đóng ở nơi nào.
8 - Phải bồi thường tiền đền mạng cho thân nhân 2, 3
người Tây dương đã bị giết chết.
9 - Nước Cao Man, từ sau không được bắt họ cống hiến
nữa.
10 - Giao hết cả tỉnh thành và đất phụ thuộc của Gia
Định, Định Tường.
11 - Đóng quân ở Thủ dầu một tỉnh Biên Hòa.
12 - Kinh sư của 2 nước đều có quan đại thần đóng ở.
13 - Số bạc bồi thường trước đòi 400 vạn đồng.
14 - Cùng là nước Y Pha Nho xin ở một khu Đồ Sơn tỉnh
Hải Dương, cửa huyện Nghiêu Phong lập sở tuần lấy thuế
10 năm, sau sẽ trả lại nước ta.
*
So sánh với 12 khoản đòi hỏi trong văn thư đề ngày 7
tháng 6 d.l năm 1861 của Charner gởi cho Nguyễn Bá Nghi
(xin xem lại văn thư 12 khoản nầy ở phần trên nơ trang
23 và 24) thì thấy có sự thay đổi nhưng số khoản đòi
hỏi lần nầy tăng lên 2 khoản và đáng chú ý là các khoản
8, 9 và 14.
-Về khoản thứ 8, bồi thường tiền đền mạng cho thân
nhân 2, 3 người Tây dương đã bị giết chết: thực lực
không ghi rõ 2, 3 người Tây dương là ai nhưng vào tháng
6 â.l năm Tân Dậu (1861)có ghi chép vụ 3 người theo
đạo gia tô bị xử chém: Dân đạo ở Biên Hòa là Phạm Văn
Đệ bị ghép tội làm tay sai gián điệp cho Pháp, Nguyễn
Thị Tòng, Nguyễn Văn Bối bị khép tội tiếp tế giao thông
với giặc xâm lược. Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan dâng sớ
xin đem 3 người ấy chém ngay. Tự Đức y cho thi hành
tức thì. (ĐTLCB đã dẫn; trang 229).
Thánh 8 â.l, Tân Dậu (1861), Thanh Hóa lùng bắt được
2 giáo sĩ ngoại quốc tên là Xay Da-tô Bô-ni-e và Ma
Tô Bông, quan tỉnh và viên phủ đều được khen thưởng.
(ĐNTL; sách đã dẫn, trang 237) .
Tháng 10 â.l, Tân Dậu (1861), tỉnh Bình Định bắt được
một giáo sĩ ngoại quốc tên là Y-ty-Anh. (ĐNTL, sách
đã dẫn trang 245). Từ sự ghi chép nầy người ta có thể
suy diễn rằng:
* -2, 3 người Tây dương bị giết chết được đề cập nơi
khoản 8 chính là 2 giáo sĩ bị bắt ở Thanh Hóa và 1 bị
bắt ở Bình Định.
* -Văn thư 14 khoản của Charner được gởi tới quân thứ
Biên Hòa sau tháng 10 â.l năm Tân Dậu (khoảng tháng
10 hay tháng 11 dương lịch 1861 bởi vì sau đó Charner
đã bàn giao chức vụ thống soái cho Bonard vào ngày 30
tháng 11 d.l năm 1861).
-Về khoản thư 9: Nước Cao Man, từ sau không được bắt
họ cống hiến nữa. Khoản đòi hỏi nầy nhứt định là phải
xảy ra sau khi vua nước Cao Miên Norodom đã bắt đầu
chịu khuất phục đoàn quân viễn chinh xâm lược Pháp ở
Sài Gòn bởi vì ngày 21 tháng 3 d.l năm 1861 Charner
phái phó thuyền trưởng Lespès mang một là thư sang Kampot
để chiêu dụ vua Cao Miên Norodom và ngay sau đó vua
Cao Miên đã cử một sứ đoàn 80 người mang lễ vật xuống
Sài Gòn gặp Charner để xin chịu thần phục và nhờ người
Pháp che chở hầu thoát khỏi ảnh hưởng của 2 nước Đại
Việt và Xiêm La. (Cũng xem thêm: Nguyễn Công Tánh, Việt
Sử Tân Khảo Chú Giải và Khảo Luận V, trang 1394 và trang
1404 phần chú thích số 14.) Nội dung lá thư của Charner
gởi cho vua Cao Miên như sau:
- "Les derniers événements de la Cochinchine sont
parvenus à la connaissance de Votre Majesté. Elle sait
que les troupes franco-espagnoles ont chassé les Annamites
des lignes de Chí Hòa, que Saigon est dégagé et que
l' armée ennemie vaincue s' est dispersée dans toutes
les directions. Les populations des environs, à de grandes
distances sont venues faire leur soumission et accepter
la protection qui leur était offerte.
L' intention de la France est de conserver sa conquête,
de fonder dans la Basse-Cochinchine une colonie et d'
y apporter tous les bienfaits de la civilisation européenne.
Le Cambodge a toujours eu avec la France des relations
d' amitiéẹ J' espère que nos rapports, en devenant plus
fréquents, deviendront aussi plus intimes.
Comme commandant des forces de terre et de mer en Cochinchine,
et comme représentant de la France, je viens assurer
Votre Majesté de nos meilleures intentions à l' égard
du royaume du Cambodge et réponsonse aux avances da
paix et d' amitié que le Roi, votre père, sire, a souvent
faites au représentant du noble Empereur des Français
à Saigon.
J' ai l' honneur d' informer aussi Votre Majesté, que
je compte, dans un temps peu éloigné, porter nos forces
sur Mỷ-Tho et m' emparer de cette place, dernière défense
des Annamites vers le Cambodge.
Le commandant de l'avisio de sa Majesté Impériale,
le Norzagaray, pourra entrer en communication avec votre
Majesté, si tel est son désir.
J' offre à Votre Majesté . . . ." (A. Schreiner,
sách đã dẫn; trang 183).
Theo nội dung của lá thư nầy gởi cho vua Cao Miên,
người ta thấy ngay người Pháp đã có ý đồ thiết lập chế
độ thực dân thuộc địa trên vùng Nam Kỳ hạ (L' intention
de la France est de conserver sa conquête, de fonder
dans la Basse-Cochinchine une colonie et d' y apporter
tous les bienfaits de la civilisation européenne), đang
chuẩn bị đánh chiếm Mỹ Tho và để rảnh tay đối phó với
triều đình Huế, người Pháp đã dùng lời ngon ngọt để
chiêu dụ người Cao Miên theo về phe với họ trước khi
họ tung quân đi chiếm lấn thêm đất đai của nước Đại
Nam (que je compte, dans un temps peu éloigné, porter
nos forces sur Mỷ-Tho et m' emparer de cette place,
dernière défense des Annamites vers le Cambodge.)
Như vậy có thể suy định thêm được một điều khác là
văn thư trả lời của Charner với 14 khoản đòi hỏi kể
trên được gởi đến cho Nguyễn Bá Nghi sau ngày 21 tháng
3 d.l năm 1861, sau khi sứ đoàn 80 người Cao Miên xuống
Sài Gòn mang theo lễ vật để cống sứ cho quan soái Charner.
Và có thể là, Nguyễn Bá Nghi đem văn thư 14 khoản nầy
tấu trình về triều đình ngoài Huế để Tự Đức cùng các
quan đại thần của Cơ Mật Viện bàn bạc quyết định và
Trương Đăng Quế đã cố vấn đường hướng cho Nguyễn Bá
Nghi áp dụng trong cuộc thương lượng tiếp tục với người
Pháp.
B/ Trong vòng 10 tháng đó có những biến động
gì đã xảy ra?
Như trên đã đề cặp, sách thực lục của nhà Nguyễn vào
tháng 6 â.l năm Tự Đức thứ 14 (Tân Dậu/1861) có nói
tới việc người Pháp đưa ra 14 khoản đòi hỏi nhưng lại
thêm rằng (14 khoản nầy chép ở tháng 4 â.l năm Tự Đức
thứ 15 sau đây), tức là gần 10 tháng sau sách thực lục
mới chịu viết ra nội dung của 14 khoản đòi hỏi đó. Trong
khoảng thời gian nầy (từ tháng 6 âl/ Tân Dậu/ Tự Đức
thứ 14/1861 đến tháng 4 âl/ Nhâm Tuất/ Tự Đức thứ 15/
1862) có những biến động gì đã xảy ra để cho tên tuổi
của ông Phan Thanh Giản bắt đầu xuất hiện trên chính
trường ngoại giao để tiếp nhận một trách vụ đội đá vá
trời, một trách vụ nặng nề ngang với một bản án tử hình
khốc liệt mà kẻ tử tội đang mỗi ngày mỗi giờ đếm từng
bước chân của mình trên những bậc thang đưa lên đoạn
lầu đài.
Chương
10
Tân Dậu, Tự Đức năm thứ 14 (1861), tháng 6 âl, Tự Đức
lặp lại lệnh truyền cho các địa phương phải nghiêm nhặt
tách, ghép các tín đồ đạo Gia tô: thích chữ vào mặt,
quản thúc cho nghiêm, giam nhốt thật gắt gao những giáo
sĩ, nếu người Tây dương tới nơi thì đem đem những kẻ
theo đạo ấy giết cho hết. Phủ huyện nào còn dung túng
đến nỗi sinh ra việc lo ngại thì nhất định là phải chiếu
quân luật trị tội.
Tân Dậu, Tự Đức năm thứ 14 (1861), tháng 7 â.l, cho
Đoàn Thọ thăng thụ Trung quân Đô thống sung làm chức
phòng hộ sứ ở đồn cửa biển Thuận An.
Từ quân thứ Biên Hòa, Nguyễn Bá Nghi và Trần Đình Túc
dâng tập tâu trình tình hình Biên Hòa yếu ớt đơn độc,
không thể vừa đánh vừa giữ được, cuộc giảng hòa lại
không thành, xin giảm bớt quân thứ và phái người đi
cầu viện nước ngoài. Tự Đức trách cứ, cho rằng hai người
chưa thi hành nhiệm vụ đúng mức.
Biên Hòa và Vĩnh Long trở thành những căn cứ địa để
chiêu mộ dân quân kháng chiến chống Pháp. Ngay cả ở
trong các vùng của quân Pháp tạm chiếm cũng có những
ổ kháng chiến. Mạnh và nhiều nhất là ở Gò Công.
Tri huyện Toại trước kia cai trị Gò Công, nay chiêu
mộ hơn 600 dân phu đồn điền và chiến binh thất trận
ở đồn Kỳ Hòa, tổ chức thành một lực lượng kháng chiến
chông Pháp. Đêm 21 tháng 6 d.l rạng ngày 22 d.l năm
1861, dân quân kháng chiến dưới quyền của huyện Toại
tấn công đồn phòng thủ của Pháp ở Gò Công. Đồn nầy do
một sĩ quan hải quân Pháp là Paulin Vial và 27 quân
sĩ trú đóng. Kế hoạch tấn công của huyện Toại bị nội
gián thông báo trước cho Paulin Vial. Cuộc tấn kích
thất bại: quân kháng chiến rút lui để lại chiến trường
14 xác chết trong số nầy có xác của huyện Toại. Phía
quân Pháp thì Paulin Vial bị trọng thương và một pháo
thủ bị tử trận.
Qua ngày hôm sau, một tổ kháng chiến khác ở Gò Công
do Trương Định cầm đầu lại tấn công quân Pháp nhưng
bị quân trú phòng của Pháp đẩy lui. Lực lượng kháng
chiến của Trương Định gây lo sợ và bối rối cho quân
binh Pháp miền Tây: giết chết bá hộ Huy vì Huy được
quân Pháp giao cho cai quản một tổng ở huyện Đông Sơn
trong tỉnh Gò Công mặc dù bá hộ Huy là bạn thân của
Trương Định; truyền rao xử tội những xã trưởng theo
và hợp tác với người Pháp.
Ở vùng Mỹ Tho thì có tổ kháng chiến của tri phủ Cậu,
của thiên hộ Dương cùng nhiều tổ kháng chiến nhỏ khác,
tất cả đã gây khốn đốn không ít cho quân binh đồn trú
của Pháp đồng thời các tổ chức kháng chiến cũng là một
trở ngại cho việc đàm phán hòa bình của 2 bên bởi vì
người Pháp nghi ngờ rằng phía triều đình Đại Nam dụng
kế hoãn binh, một mặt không chính thức phản công trực
tiếp nhưng lại xúi ngầm và yểm trợ cho các tổ chức kháng
chiến đánh phá trong khi vẫn kéo dài cuộc hoà đàm.
Thánh 8 â.l (1861), Thanh Hóa lùng bắt được 2 giáo
sĩ ngoại quốc. Quan tỉnh và viên phủ đều được thưởng
gia
thăng một cấp.
Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang tấu trình về thành tích
đánh phá chống quân Pháp của lực lượng kháng chiến do
cựu phó quản cơ Gia Định là Trương Định cầm đầu. Tự
Đức cất nhắc cho làm quản cơ rồi lãnh chức phó lãnh
binh với số dân quân hơn 6,000 người dưới quyền, chia
thành 6 cơ đội.
Tri phủ Phước Tuy Nguyễn Thành Ý và thuộc hạ Phan Trung
cũng mộ được 2 cơ cộng chung 4,000 người.
Hai con của vua Cao Miên Nặc Ong Đôn là Ong Bướm, Ong
Lan tranh nhau quyền nối nghiệp.
Tháng 10 â.l (1861), án sát sứ Nguyễn Văn Nhã cùng
với quân kháng chiến của tri phủ Cậu tấn công quân đồn
trú Pháp ở Cái Bè và Cai Lậy: phía Pháp có 50 người
bị bắn hạ đa số là lính tập đánh thuê cho Pháp.
Tỉnh Bình Định bắt được một giáo sĩ ngoại quốc tên
là Y-ty-Anh (ĐNTLCB; sách đã dẫn, trang 245)
Ở miền Đông, tình hình kháng chiến không mạnh như ở
miền Tây. Nhưng quân đồn trú của Pháp ở Thủ Dầu Một
luôn phải đưa quân tuần tiểu quanh vùng thường xuyên
để đánh dẹp quân kháng chiến. Trong 3 tháng cuối năm
d.l 1861, các đồn bót của Pháp ở Thủ Dầu Một bị tấn
công mạnh trong những ngày 15, 21 tháng 10 d.l và những
ngày 19, 21 tháng 11 d.l và ngày 1 tháng 12 d.l khiến
cho 2 sĩ quan, 3 pháo thủ thuyền chiến, hai trợ tá người
địa phương bị tử trận và 5 lính tập đánh thuê bị thương.
Phía kháng chiến và quân binh có 150 người bị tử trận.
Trong bài viết l' Extrait du Journal d' un officier
détaché à Mỷ Tho (trích Nhật Ký của một sĩ quan công
tác ở Mỹ Tho) do tác giả người Pháp M. de Grammont ghi
lại tình hình xáo động do dân quân kháng chiến gây ra
quanh vùng Mỹ Tho từ 29 tháng 8 d.l năm 1861 đến 30
tháng 11 d.l năm 1861 như sau:
-29 tháng 8 d.l - Đồn Cây Lậy do Chassériau trú đóng
bị tổ kháng chiến của đốc phủ Cậu tấn công.
-4 tháng 9 d.l - Đồn Bourdais vùng kinh Bảo Định cách
Mỹ Tho 3 dậm bị dân quân kháng chiến tấn công; phó hạm
trưởng Mac-Dermott được phái tới để truy kích.
-5 tháng 9 d.l - Chận bắt ghe chở vũ khí cho kháng chiến.
-14 tháng 9 d.l - Pháp hành quân bình định trong vùng
tứ giác (có thể là vùng đồng bằng nằm trong vùng tứ
giác sông Mê Kong - sông Vàm Cỏ Tây - biển Đông -nước
Cao Miên) để truy lùng phủ Cậu.
15 th |